Tin tức

Tiếp sức khởi nghiệp: Gỡ vướng quyền sở hữu trí tuệ

Startup Hải Phòng 27/06/2018 ~3 phút đọc 1.946 lượt xem

Khi nói đến startup - khởi nghiệp, có thể thấy đây đa số là các doanh nghiệp phát triển dựa trên các ý tưởng kinh doanh mới, các sáng chế hoặc giải pháp công nghệ. Do các startup còn trẻ, ban đầu thường không có đủ vốn, nên họ cần có sự hỗ trợ từ nhiều nhà đầu tư khác nhau nhằm đưa ý tưởng đi vào thực tế.

Song hiện nay, khi gọi vốn thì startup và nhà đầu tư thường gặp khó khăn trong việc góp vốn và định giá đối với các giá trị sở hữu trí tuệ (SHTT), ý tưởng kinh doanh. Các bên thường chỉ dựa theo cảm tính để xác định giá trị quyền SHTT do chưa có một tiêu chí pháp lý cụ thể nào có thể hỗ trợ cho việc định giá đối với quyền SHTT. Cuối cùng, các bên thường quay lại với phương thức góp vốn truyền thống là bằng tiền hoặc tài sản hữu hình. Điều này sẽ dẫn đến thiệt thòi cho startup trong cơ cấu vốn góp trên giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp do đa số startup không có nhiều tài sản.

Đối với việc góp vốn bằng quyền SHTT, khoản 1, điều 35 của Luật Doanh nghiệp năm 2014 quy định: Tài sản góp vốn có thể là đồng Việt Nam, ngoại tệ tự do chuyển đổi, vàng, giá trị quyền sử dụng đất, giá trị quyền SHTT, công nghệ, bí quyết kỹ thuật, các tài sản khác có thể định giá được bằng đồng Việt Nam. Khoản 2 điều này ghi: Quyền SHTT được sử dụng để góp vốn bao gồm quyền tác giả, quyền liên quan đến quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp, quyền đối với giống cây trồng và các quyền SHTT khác theo quy định của pháp luật về SHTT.

Luật SHTT quy định căn cứ để xác lập quyền sở hữu đối với các quyền SHTT nêu trên là trên cơ sở quyết định cấp văn bằng bảo hộ của cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc được công nhận đăng ký quốc tế theo điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên.

Như vậy, quyền SHTT chỉ được xác lập, có hiệu lực kể từ ngày được cơ quan có thẩm quyền cấp văn bằng bảo hộ hoặc cấp giấy chứng nhận đăng ký. Điều này có nghĩa rằng startup muốn góp vốn kinh doanh bằng các quyền SHTT của mình thì phải chờ cho đến khi được cấp văn bằng bảo hộ hoặc được cấp giấy chứng nhận.

Nhưng, phải mất thời gian bao lâu thì mới được cấp văn bằng bảo hộ hoặc giấy chứng nhận? Theo Luật SHTT, trường hợp lâu nhất là đối với sáng chế, nếu tính cả thời gian thẩm định, thẩm định lại và công bố đơn hợp lệ (nghĩa là hồ sơ đủ điều kiện để cấp văn bằng bảo hộ, giấy chứng nhận) thì cũng phải mất khoảng gần bốn năm, chưa kể việc chỉnh sửa, bổ sung đơn đăng ký cũng như hồ sơ kèm theo.

Quy định này hiện nay đang gây rất nhiều khó khăn cho startup, liệu startup cũng như các nhà đầu tư có đủ kiên nhẫn chờ đợi?

Thiết nghĩ, để tháo gỡ khó khăn cho khởi nghiệp thì cơ quan lập pháp cần điều chỉnh quy định trong Luật SHTT theo hướng: sau khi nộp đơn đăng ký bảo hộ đối với sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí, nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý và quyền đối với giống cây trồng thì cơ quan chức năng có trách nhiệm xác định đơn đã hợp lệ hay chưa trong một thời gian rút ngắn nhất định. Nếu đơn được xác định hợp lệ thì được phép sử dụng quyền SHTT nêu trong đơn này để góp vốn kinh doanh ngay mà không phải đợi đến khi được cấp văn bằng bảo hộ hoặc cấp giấy chứng nhận. Bên cạnh đó, để tránh trường hợp sau này cơ quan chức năng xác định người nộp đơn không đủ điều kiện cấp văn bằng bảo hộ, giấy chứng nhận hoặc văn bằng bảo hộ, giấy chứng nhận lại được cấp cho người khác, luật cần quy định rõ người nộp đơn chỉ được quyền sử dụng mà không được quyền chuyển nhượng, tặng cho, để thừa kế, thế chấp đối với các quyền SHTT đề nghị được bảo hộ nêu trong đơn khi đang trong thời gian chờ xem xét cấp văn bằng bảo hộ, giấy chứng nhận. Theo đó, nếu người nộp đơn không được cấp bảo hộ thì đương nhiên phải chấm dứt việc sử dụng quyền SHTT kể từ thời điểm người chủ sở hữu thực sự được cấp văn bằng bảo hộ, giấy chứng nhận (trừ trường hợp được sự đồng ý của chủ sở hữu quyền SHTT) hoặc cơ quan chức năng thông báo không đủ căn cứ để cấp văn bằng bảo hộ, giấy chứng nhận.

Luật cũng cần có quy định về việc định giá đối với quyền SHTT nhằm tạo hành lang pháp lý cho việc định giá đối với quyền SHTT. Nếu giải quyết được hai tồn tại nêu trên thì sẽ giúp đánh giá đúng giá trị quyền SHTT của startup đồng thời tạo vị thế, sự công bằng cho startup trong quá trình đàm phán hợp tác kinh doanh với các nhà đầu tư, và quan trọng nhất vẫn là hỗ trợ cho startup có động lực để phát triển hơn nữa.

Theo luật sự Trần Quang Vinh - Thời Báo Kinh Tế Sài Gòn