Tin tức

Cơ cấu lắp module ắc quy dùng cho xe hai bánh dan động bằng động cơ điện

Startup Hải Phòng 02/02/2019 ~3 phút đọc 1.784 lượt xem

Cơ cấu lắp module ắc quy dùng cho xe hai bánh dan động bằng động cơ điện

1. Tên sáng chế, phát minh, giải pháp:
Cơ cấu lắp module ắc quy dùng cho xe hai bánh dan động bằng động cơ điện
2. Số bằng,ký hiệu: 1-0015173
3. Thuộc lĩnh vực KH&CN Công nghệ chế tạo máy - tự động hóa (Sáng chế)
4. Ngày công bố 25/03/2016
5. Ngày cấp 23/04/2019
6. Chủ sở hữu chính HONDA MOTOR CO., LTD.
7. Tác giả Tomohiro TSUKAMOTO (JP), Kazumi SHIBATA (JP), Takashi TOMINAGA (JP), Susumu AKUTSU (JP)
8. Điểm nổi bật
Mục đích của sáng chế là đề xuất cơ cấu lắp môđun ăcquy dùng cho xe hai bánh dẫn động bằng động cơ điện trong đó các bộ phận của hệ thống động lực như ăcquy, cụm điều khiển động cơ, v.v..., được kết hợp thành một khối và cho phép lắp vào và tháo ra khỏi thân xe một cách dễ dàng.
9. Mô tả về sáng chế, phát minh, giải pháp

Lĩnh vực kỹ thuật được đề cập

Nói chung, sáng chế đề cập đến cơ cấu lắp môđun ăcquy dùng cho xe hai bánh dẫn động bằng động cơ điện. Cụ thể là, sáng chế đề cập đến cơ cấu lắp môđun ăcquy dùng cho xe hai bánh dẫn động bằng động cơ điện trong đó động cơ điện là nguồn động lực được dẫn động bằng điện cấp từ ăcquy lắp trên xe.

Tình trạng kỹ thuật của sáng chế

Cho đến nay, trong xe hai bánh dẫn động bằng động cơ điện chạy bằng cách sử dụng động cơ điện làm nguồn động lực, việc tối ưu hóa cách bố trí và kết cấu của ăcquy điện áp cao để cấp điện cho động cơ và của cụm điều khiển động cơ, v.v.., đã được xem xét.

Công bố đơn yêu cầu cấp patent Nhật Bản số 2008-221976 bộc lộ loại xe hai bánh dẫn động bằng động cơ điện như dưới đây. Ăcquy, cụm điều khiển động cơ, động cơ điện, v.v.., được lắp bên trong đòn lắc (cụm lắc) dùng để đỡ theo cách quay được bánh sau là bánh xe dẫn động. Ngoài ra, đòn lắc được lắp theo cách lắc được trên phần dưới của thân xe.

Nhân đây, xe hai bánh vốn có khoảng không dư thừa nhỏ có nhược điểm sau. Vị trí lắp các bộ phận của hệ thống động lực như ăcquy, cụm điều khiển động cơ, v.v.., được đặt riêng biệt theo cách bố trí thân của từng loại xe. Do vậy, số lượng các phần lắp chuyên dùng tăng và việc lắp ráp bị phức tạp. Ngoài ra, giải pháp được mô tả trong công bố đơn yêu cầu cấp patent Nhật Bản số 2008-221976 không cho phép tăng hiệu suất của việc lắp ráp và nâng cao khả năng bảo dưỡng bằng cách làm cho các bộ phận của hệ thống động lực này có thể được lắp vào hoặc tháo ra khỏi thân xe.

Bản chất kỹ thuật của sáng chế

Mục đích của sáng chế là giải quyết các vấn đề của giải pháp kỹ thuật đã biết và 15173 cụ thể là sáng chế đề xuất cơ cấu lắp môđun ăcquy dùng cho xe hai bánh dẫn động bằng động cơ điện trong đó các bộ phận của hệ thống động lực như ăcquy, cụm điều khiển động cơ, v.v.., được kết hợp thành một khối và cho phép dễ dàng lắp vào và tháo ra khỏi thân xe.

Để đạt được mục đích nêu trên, sáng chế đề xuất cơ cấu lắp môđun ăcquy dùng cho xe hai bánh dẫn động bằng động cơ điện, trong đó động cơ điện M dẫn động bánh sau WR của xe 1 và PDU 50 được bố trí trong đòn lắc 30, 30a đỡ theo cách quay được bánh sau WR và được đỡ lắc được bởi thân xe thông qua trục lắc 19 đi qua lỗ thông 19a được tạo ra ở phía trước thân xe, cơ cấu này bao gồm hộp chứa 300, 400 chứa ăcquy 56 dùng để cấp điện cho động cơ điện M và PDU 50 để điều khiển động cơ điện M; và hộp chứa 300, 400 được tạo kết cấu để có thể lắp vào và tháo ra khỏi đòn lắc 30, 30a với ăcquy 56 và PDU 50 được lắp vào hộp chứa 300, 400.

Sáng chế còn bao gồm dấu hiệu khác biệt thứ hai là: đòn lắc 30 có dạng nhô ra ương đó phần đòn 39 được bố trí ở bên phải hoặc bên trái theo chiều rộng xe của bánh sau WR dùng để đỡ bánh sau WR; ăcquy 56 có dạng hình hộp chữ nhật được lắp vào hộp chứa 300 với chiều dọc của nó hướng theo chiều rộng xe; và hộp chứa 300 được lắp từ phía trong theo chiều rộng xe trên mặt bên của vỏ đòn lắc 330 ở phía trước thân xe so với bánh sau WR và ở phía sau thân xe so với lỗ thông 19a, vỏ đòn lắc 330 đỡ phần đòn 39.

Sáng chế còn bao gồm dấu hiệu khác biệt thứ ba là: tấm nền dùng cho các linh kiện phát nhiệt 50b, là một phần của PDU 50 mà linh kiện phát nhiệt 350 có công suất tỏa nhiệt cao được lắp trên đó, được làm thẳng hàng với ăcquy 56 theo hướng từ trước đến sau của thân xe theo cách không gối chồng lên ăcquy 56 khi nhìn từ phía bên của thân xe.

Sáng chế còn bao gồm dấu hiệu khác biệt thứ tư là: đòn lắc 30a có dạng nhô ra trong đó phần đòn 39 được bố trí ở bên phải hoặc bên trái theo chiều rộng xe của bánh sau WR dùng để đỡ bánh sau WR; ăcquy 56 có dạng hình hộp chữ nhật được lắp vào hộp chứa 400 với chiều dọc của nó hướng theo chiều thẳng đứng của thân xe; và hộp chứa 400 được lắp từ phía trên thân xe lên mặt trên của vỏ đòn lắc 430 ở phía trước thân xe so với bánh sau WR và ở phía sau thân xe so với lỗ thông 19a, vỏ đòn lắc 430 đỡ phần đòn 39.

Sáng chế còn bao gồm dấu hiệu khác biệt thứ năm là: tẩm nền dùng cho các linh 15173 kiện phát nhiệt 50b, là một phần của PDU 50 mà linh kiện phát nhiệt 350 có công suất tỏa nhiệt cao được lắp trên đó, được làm thẳng hàng với ăcquy 56 theo chiều rộng xe theo cách không gối chồng lên ăcquy 56 khi nhìn từ phía trên thân xe.

Sáng chế còn bao gồm dấu hiệu khác biệt thứ sáu là: ăcquy 56 được tạo kết cấu trong đó các ngăn ăcquy dạng tám mỏng 56a, mà có một tấm mỏng dạng mềm được chèn vào giữa các ngăn, được xếp chồng lên nhau.

Sáng chế còn bao gồm dấu hiệu khác biệt thứ bảy là: ăcquy 56 được lắp vào hộp chứa 300, 400 và sau đó hỗn hợp gắn kết 362 được đổ vào phần miệng của hộp chứa 300, 400 để cố định ăcquy 56 với hộp chứa 300, 400.

Sáng chế còn bao gồm dấu hiệu khác biệt thứ tám là: việc gắn kết có sử dụng hỗn hợp gắn kết 362 được thực hiện còn nhằm che tấm nền bằng nhôm 50c là một phần của PDU 50 và được bố trí liền kề với một mặt bên của ăcquy 56; và chi tiết bằng cao su xốp 360 có trọng lượng nhỏ hơn hỗn hợp gắn kết 362 được bố trí giữa một mặt đầu của ăcquy 56 và tấm nền bằng nhôm 50c.

Sáng chế còn bao gồm dấu hiệu khác biệt thứ chín là: PDU 50 bao gồm tấm nền bằng nhôm 50c được bố trí liền kề với một mặt bên của ăcquy 56, tấm nền dùng cho các bộ phận điều khiển 50a nằm ở một khoảng cách định trước so với tấm nền bằng nhôm 50c, và tấm nền dùng cho các linh kiện phát nhiệt 50b nằm ở vị trí giữa tấm nền dùng cho các bộ phận điều khiển 50a và tấm nền bằng nhôm 50c và lệch về một phía bên của ăcquy 56; và linh kiện phát nhiệt 350, 450 có công suất tỏa nhiệt cao hơn các linh kiện trên tấm nền dùng cho các bộ phận điều khiển 50a và tấm nền bằng nhôm 50c được lắp trên tẩm nền dùng cho các linh kiện phát nhiệt 50b.

Sáng chế còn bao gồm dấu hiệu khác biệt thứ mười là: hộp chứa 300, 400 bao gồm phần chứa ăcquy 301, 401 chứa ăcquy 56 và phần chứa các linh kiện phát nhiệt 302, 303 chứa linh kiện phát nhiệt 350,450.

Theo sáng chế, cơ cấu lắp môđun ăcquy bao gồm hộp chứa chứa ăcquy dùng để cấp điện cho động cơ điện và PDU để điều khiển động cơ điện. Ngoài ra, hộp chứa được tạo kết cấu để có thể lắp vào và tháo ra khỏi đòn lắc với ăcquy và PDU được lắp vào hộp chứa. Do vậy, ăcquy và các tấm nền có thể được xử lý như một môđun có thể được lắp vào và tháo ra khỏi đòn lắc. Điều đó cho phép thực hiện sẵn việc lắp ráp sơ bộ để cố định ăcquy và các bộ phận tương tự với hộp chứa. Như vậy, hiệu suất lắp ráp đòn lắc có thể được cải thiện. Ngoài ra, việc thay thế ăcquy sau khi lắp ráp xong xe có thể 15173 được tạo điều kiện thuận lợi và tính đa dụng, trong đó hộp chứa chung có thể được sử dụng cho nhiều loại đòn lắc, có thể được cải thiện. Do hộp chứa và các bộ phận chứa trong đó có thể được thiết kế cùng nhau nên chúng có thể được thiết kế một cách dễ dàng mà vẫn tối ưu hóa được sự cân bằng về trọng tâm của toàn bộ môđun.

Theo sáng chế có dấu hiệu khác biệt thứ hai, đòn lắc có dạng nhô ra trong đó phần của đòn lắc nằm theo chiều rộng ở bên phải hoặc bên trái của xe so với bánh sau sẽ đỡ bánh sau này. Ăcquy có dạng hình hộp chữ nhật được lắp vào hộp chứa với chiều dọc của nó hướng theo chiều rộng xe. Hộp chứa được lắp từ phía trong theo chiều rộng xe trên mặt bên của vỏ đòn lắc ở phía trước thân xe so với bánh sau và ở phía sau thân xe so với lỗ thông, vỏ đòn lắc đỡ phần đòn. Do vậy, có thể tạo ra cơ cấu lắp môđun ăcquy thích hợp để sử dụng xe có kích thước lớn theo chiều rộng xe. Ngoài ra, trọng tâm của thân xe có thể giảm đến mức thấp trong khi vẫn duy trì được sự cân bằng trọng lượng của đòn lắc theo chiều rộng xe.

Theo sáng chế có dấu hiệu khác biệt thứ ba, tấm nền dùng cho các linh kiện phát nhiệt, là một phần của PDU mà linh kiện phát nhiệt có công suất tỏa nhiệt cao được lắp trên đó, được làm thẳng hàng với ăcquy theo hướng từ phía trước đến phía sau của thân xe theo cách không gối chồng lên ăcquy khi nhìn từ phía bên của thân xe. Do vậy, có thể ngăn không cho sự phát nhiệt của ăcquy ảnh hưởng đến tấm nền dùng cho các linh kiện phát nhiệt.

Theo sáng chế có dấu hiệu khác biệt thứ tư, đòn lắc có dạng nhô ra trong đó phần đòn nằm ở bên phải hoặc bên trái theo chiều rộng xe so với bánh sau sẽ đỡ bánh sau này. Ăcquy có dạng hình hộp chữ nhật được bố trí trong hộp chứa với chiều dọc của nó hướng theo chiều thẳng đứng của thân xe. Hộp chứa được lắp từ phía trên thân xe lên mặt trên của vỏ đòn lắc ỏ phía trước thân xe so với bánh sau và ở phía sau thân xe so với lỗ thông, vỏ đòn lắc đỡ phần đòn. Do vậy, có thể tạo ra cơ cấu lắp môđun ăcquy có kích thước của đòn lắc theo chiều rộng xe được giảm.

Theo sáng chế có dấu hiệu khác biệt thứ năm, tấm nền dùng cho các linh kiện phát nhiệt, là một phần của PDU mà linh kiện phát nhiệt có công suất tỏa nhiệt cao được bố trí trên đó, được bố trí thẳng hàng với ăcquy theo chiều rộng xe theo cách không gối chồng lên ăcquy khi nhìn từ phía trên thân xe. Do vậy, tấm nền dùng cho các linh kiện phát nhiệt có thể được bố trí theo cách có hiệu quả bằng cách tận dụng khoảng không theo chiều rộng xe, mà khoảng không này được đảm bảo bằng cách làm 15173 cho chiều dọc của ăcquy hướng theo chiều thẳng đứng của thân xe. Ngoài ra, có thể ngăn không cho việc phát nhiệt của ăcquy tác dụng lên tấm nền dùng cho các linh kiện phát nhiệt.

Theo sáng chế có dấu hiệu khác biệt thứ sáu, ăcquy được tạo kết cấu trong đó các ngăn ăcquy dạng tấm mỏng, mà có một tấm mỏng dạng mềm được chèn vào giữa các ngăn, được xếp chồng lên nhau. Do vậy, không cần phải tạo ra các vỏ cho từng ngăn ăcquy. Ngoài ra, các ngăn ăcquy có thể được bố trí tiếp xúc với nhau. Như vậy, dung lượng của ăcquy có thể tăng mà vẫn không làm tăng kích thước của đòn lắc. Ngoài ra, việc lắp ăcquy vào đòn lắc và việc thay thế ăcquy có thể được tạo điều kiện thuận lợi.

Theo sáng chế có dấu hiệu khác biệt thứ bảy, ăcquy được lắp vào hộp chứa và sau đó hỗn hợp gắn kết được đổ vào phần miệng của hộp chứa để cố định ăcquy với hộp chứa. Do vậy, không cần đến chi tiết đỡ chuyên dùng hay các bộ phận tương tự dùng để cố định ăcquy.

Theo sáng chế có dấu hiệu khác biệt thứ tám, việc gắn kết có sử dụng hỗn hợp gắn kết được thực hiện còn nhằm che tấm nền bằng nhôm là một phần của PDU và được bố trí liền kề với một mặt bên của ăcquy. Ngoài ra, chi tiết bằng cao su xốp có trọng lượng nhỏ hơn hỗn hợp gắn kết được bố trí giữa một mặt đầu của ăcquy và tẩm nền bằng nhôm. Do vậy, lượng hỗn hợp gắn kết cần sử dụng, vốn nặng hơn chi tiết bằng cao su xốp, có thể giảm đi một lượng bằng thể tích của chi tiết bằng cao su xốp, khiến cho trọng lượng của đòn lắc có thể giảm.

Theo sáng chế có dấu hiệu khác biệt thứ chín, PDU bao gồm tấm nền bằng nhôm được bố trí liền kề với một mặt bên của ăcquy, tẩm nền dùng cho các bô phận điều khiển nằm ở một khoảng cách định trước so với tấm nền bằng nhôm, và tấm nền dùng cho các linh kiện phát nhiệt nằm ở vị trí giữa tấm nền dùng cho các bộ phận điều khiển và tấm nền bằng nhôm và lệch về một phía bên của ăcquy. Ngoài ra, các linh kiện phát nhiệt, có công suất tỏa nhiệt cao hơn các bộ phận trên tấm nền dùng cho các bộ phận điều khiển và tấm nền bằng nhôm, được lắp trên tấm nền dùng cho các linh kiện phát nhiệt. Do vậy, tấm nền dùng cho các linh kiện phát nhiệt có công suất tỏa nhiệt cao có thể được bố trí ở vị trí nằm cách nơi mà ăcquy sinh ra nhiệt.

Theo sáng chế có dấu hiệu khác biệt thứ mười, hộp chứa bao gồm phần chứa ăcquy dùng để chứa ăcquy và phần chứa các linh kiện phát nhiệt dùng để chứa linh 15173 kiện phát nhiệt. Do vậy, ăcquy và tấm nền dùng cho các linh kiện phát nhiệt có thể nằm riêng biệt khiến cho có thể tránh được sự ảnh hưởng nhiệt giữa chúng.

Mô tả vắn tắt các hình vẽ

Fig. 1 là hình chiếu cạnh của xe hai bánh được dẫn động bằng động cơ điện theo một phương án thực hiện sáng chế.

Fig.2 là hình chiếu canh phóng to thể hiện đòn lắc.

Fig.3 là hình vẽ mặt cắt riêng phần nhìn từ trên xuống thể hiện đòn lắc.

Fig.4 là hình vẽ mặt cắt phóng to thể hiện cơ cấu giảm tốc.

Fig.5 là hình vẽ mặt cắt nhìn từ trên xuống .thể hiện hộp chứa.

Fig.6 là hình chiếu cạnh của hộp chứa.

Fig.7 là sơ đồ khối thể hiện cấu hình tổng thể của hệ thống điện dùng cho xe hai bánh được dẫn động bằng động cơ điện.

Fig. 8 là sơ đồ khối thể hiện cấu hình của phẩn nạp điện dùng cho ăcquy của hệ thống điện dùng cho xe hai bánh được dẫn động bằng động cơ điện.

Fig.9 là hình chiếu cạnh phóng to thể hiện đòn lắc theo khía cạnh thứ hai của sáng chế.

Fig. 10 là hình vẽ mặt cắt riêng phần nhìn từ trên xuống thể hiện đòn lắc. Fig. 11 là hình vẽ mặt cắt theo đường A-A trên Fig.9.

Mô tả chỉ tiết phương án ưu tiên thực hiện sáng chế

Cơ cấu theo các phương án thực hiện ưu tiên của sáng chế sẽ được mô tả một cách chi tiết dưới đây có dựa vào các hình vẽ. Fig.1 là hình chiếu cạnh của xe hai bánh được dẫn động bằng động cơ điện 1 theo một phương án thực hiện sáng chế. Xe hai bánh được dẫn động bằng động cơ điện 1 là xe scutơ dạng yên ngựa có sàn để chân thấp 16. Bánh sau WR được dẫn động bởi động cơ điện M nằm trong đòn lắc (cụm lắc) 30. Ống đầu 3 dùng để lắp xoay được trục lái (không được thể hiện) được lắp vào phần trước của khung thân 2. Tay lái 8, được che bởi tấm ốp tay lái 11, được nối với phần trên của trục lái. Hai chạc trước bên phải và bên trái 6 được nối với phần dưới của trục 15173 lái này. Các chạc trước 6 đỡ theo cách quay được bánh trước WF thông qua trục bánh xe 7.

Khung thân 2 bao gồm ống chính 4, kéo dài xuống dưới từ phần sau của ống đầu 3, và khung sau 5, được lắp vào đầu sau của ống chính 4 và kéo dài lên trên ỏ phần sau của thân xe. Khung sàn 15 dùng để đỡ sàn để chân thấp 16 được lắp vào phần của ống chính 4 nằm ở phía dưới sàn để chân thấp 16. Hai tốn chốt xoay bên phải và bên trái 17 được lắp vào phần nối nằm giữa ống chính 4 và khung sau 5.

Đòn lắc 30, thuộc dạng nhô ra, có phần tay đòn chỉ ở phía bên trái theo chiều rộng xe. Đòn lắc 30 được đỡ theo cách lắc được bởi khung thân 2 thông qua trục lắc 19 đi xuyên qua chi tiết liên kết 18 lắp vào tẩm chốt xoay 17. Đòn lắc 30 được tạo kết cấu mà một phần của nó được làm rỗng và làm bằng kim loại như nhôm hay các vật liệu tương tự. Động cơ điện M nằm trong đòn lắc 30 ở vị trí gần trục bánh xe 32. Ngoài ra, PDU (Power Drive Unit - cụm dẫn động động lực, dưới đây đôi khi được gọi đơn giản là bảng mạch) 50 dùng làm cụm điều khiển được bố trí nằm ở trước thân xe so với động cơ điện M trong đòn lắc 30. Ăcquy 56 (xem Fig.3) được làm thích ứng để cấp điện cho động cơ điện M được bố trí ở phía bên phải bảng mạch 50 theo chiều rộng xe.

Bánh sau WR được đỡ theo cách quay được bởi đòn lắc 30 thông qua trục bánh xe 32. Phần đầu sau của đòn lắc 30 được treo bồi khung sau 5 thông qua bộ giảm xóc sau 26. Hộp chứa vật dụng 21 dùng làm khoang chứa hành lý được bố trí bên dưới yên xe 20 theo cách được đặt giữa hai khung sau bên trái và bên phải 5.

Ống chính 4 của khung thân 2 được che bởi tấm ốp trước 13 ở phía trước thân xe và bởi tấm che chân 12 ỏ phía sau thân xe. Các đồng hồ đo 9 được bố trí trên phần trên của tấm ốp tay lái 11. Đèn pha 10 được lắp ở phía trước thân xe so với các đồng hồ đo 9 này. Chắn bùn trước 14 được lắp cố định vào phần trên của các chạc trước 6 để che bánh trước WF.

Khung sau 5 được che từ phía ngoài theo chiều rộng xe bởi tấm ốp yên xe 23. Đèn đuôi 24 được lắp vào phần đầu sau cùa tẩm ốp yên xe 23. Giá đỡ sau 22, được lắp vào khung sau 5, nhô ra ở phía trên đèn đuôi 24. Chắn bùn sau 25 được lắp bên dưới đèn đuôi 24 để che phần sau của bánh sau WR.

Fig.2 là hình chiếu cạnh phóng to thể hiện đòn lắc 30 ở trạng thái tấm ốp đòn lắc 57 của nó được tháo ra. Fig.3 là hình vẽ nhìn từ trên xuống thể hiện đòn lắc 30 được cắt 15173 liêng phần. Các số chỉ dẫn giống với các số chỉ dẫn dùng trong phần mô tả trên đây thể hiện các bộ phận giống hay tương tự. Như được mô tả trên đây, đòn lắc 30 được tạo kết cấu rỗng một phần được làm bằng kim loại như nhôm hay các vật liệu tương tự. Ngoài ra, đòn lắc 30 thuộc dạng nhô ra trong đó phần đòn 39 ở phía bên trái theo chiều rộng xe đỡ bánh sau WR. Hai vấu lắp chốt xoay bên phải và bên trái 36, có các lỗ thông 19a dùng cho trục lắc 19 (xem Fig.1) được tạo ra trên đó, được tạo ra bên dưới và ở phía trước thân xe so với đòn lắc 30.

Hộp chứa 300 dùng để chứa ăcquy 56 có dạng hình hộp chữ nhật nói chung và các bộ phận tương tự được bố trí ở phía sau thân xe so với vấu lắp chốt xoay 36. Như được minh họa trên Fig.5, hộp chứa 300 được lắp theo cách tháo ra được vào thành bên, ở phía trong theo chiều rộng xe (ở phía bên phải theo chiều rộng xe), của vỏ đòn lắc 330 vốn đuợc tạo ra liền khối với phần đòn 39 ở phía trước thân xe. Vỏ đòn lắc 330 và hộp chứa 300 được lắp cố định với nhau nhờ các chi tiết lắp như đinh vít hay các chi tiết tương tự. Nhờ đó, việc lắp ráp sơ bộ để lắp cố định ăcquy 56 và các bộ phận tương tự với hộp chứa 300 có thể được thực hiện sẵn từ trước. Do vậy, hiệu suất lắp ráp đòn lắc 30 có thể được cải thiện. Việc thay thế ăcquy sau khi lắp ráp xong xe có thể được tạo điều kiện thuận lợi và tính đa dụng trong đó hộp chứa chung được sử dụng cho nhiều loại đòn lắc có thể được cải thiện.

Bảng mạch 50 dùng làm PDU được bố trí ở phía bên trái ăcquy 56 theo chiều rộng xe. PDU được sử dụng để điều khiển động cơ điện M và các thiết bị tương tự. Ngoài ra, bảng mạch 50 bao gồm tấm nền bằng nhôm 50c, tấm nền dùng cho các bộ phận điều khiển 50a, và tấm nền dùng cho các linh kiện phát nhiệt 50b. Tấm nền bằng nhôm 50c được bố trí liền kề với mặt bên của ăcquy 56 ở phía bên trái thân xe. Tấm nền dùng cho các bộ phận điều khiển 50a nằm cách một khoảng định trước so với tấm nền bằng nhôm 50c và nằm ở vị trí gối chồng tấm nền bằng nhôm 50c khi nhìn từ phía bên của thân xe. Tấm nền dùng cho các linh kiện phát nhiệt 50b được bố trí ở vị trí nằm giữa tấm nền dùng cho các bộ phận điều khiển 50a và tấm nền bằng nhôm 50c và ở phía sau thân xe so với hai tấm nền 50a và 50c.

Các linh kiện có công suất tỏa nhiệt thấp như các linh kiện truyền tín hiệu hay tương tự được lắp trên tấm nền dùng cho các bộ phận điều khiển 50a. Trái lại, các linh kiện có công suất tỏa nhiệt cao, ví dụ, các linh kiện phát nhiệt 350 được lắp trên tấm nền dùng cho các linh kiện phát nhiệt 50b. Ví dụ về các linh kiện có công suất tỏa nhiệt 15173 cao bao gồm nhiệt điện trở, nhóm các bộ lọc dòng điện vào-ra dùng cho bộ nạp điện ăcquy, tụ điện để cải thiện hệ số nạp điện cho ăcquy (mạch PFC), tụ điện dùng để chuyển đổi dòng điện xoay chiều thành dòng điện một chiều trong bộ nạp điện ăcquy (biến áp AC-DC), và nhóm các biến áp (các biến áp DC-DC và các linh kiện tương tự). Các linh kiện bán dẫn và các linh kiện tương tự có công suất tỏa nhiệt nhỏ hơn các linh kiện phát nhiệt lắp trên tấm nền dùng cho các linh kiện phát nhiệt 50b được lắp trên tấm nền bằng nhôm 50c. Tấm nền dùng cho các linh kiện phát nhiệt 50b mà chỉ các linh kiện phát nhiệt có công suất tỏa nhiệt được bố trí tập trung trên đó, được lắp đặt như được mô tả trên đây. Do vậy, có thể giảm tải trọng nhiệt của các linh kiện phát nhiệt tác động lên các linh kiện khác.

Tẩm nền dùng cho các linh kiện phát nhiệt 50b được bố trí ở phía sau thân xe so với tấm nền dùng cho các bộ phận điều khiển 50a. Do vậy, có thể ngăn không cho các linh kiện phát nhiệt gây ảnh hưởng nhiệt đến tấm nền dùng cho các bộ phận điều khiển 50a nằm ở phía trước theo hướng chuyển động của thân xe.

Đường dây điện pha U 310, đường dây điện pha V 311 và đường dây điện pha w 312 được nối với tấm nền bằng nhôm 50c để cấp điện cho động cơ điện truyền động M. Tẩm ốp đòn lắc 57 có dạng tấm mỏng (trên Fig. 1 và Fig.2 nó được tháo ra) được lắp vào theo chiều rộng xe ở phía bên trái vỏ đòn lắc 330 để che theo cách liền khối bảng mạch 50 và động cơ điện M. Động cơ điện M được tạo kết cấu để có thể tháo ra khỏi đòn lắc 30 bằng cách tiếp cận từ phía lắp của tấm ốp đòn lắc 57. Như vậy, động cơ điện M có khả năng bảo dưỡng cao.

Các hộp bánh răng giảm tốc 33, 41, có bộ giảm tốc lắp trong đó, được lắp vào đầu sau của phần đòn 39. Bộ giảm tốc này làm giảm số vòng quay của động cơ điện M. Trục bánh xe 32 nhô về phía bên phải theo chiều rộng xe từ hộp bánh răng giảm tốc 41. Vành 34 của bánh sau WR được lắp cố định vào phần đầu của trục bánh xe 32 nhờ đai ốc 32a. Bánh sau WR sử dụng lốp không săm và vành 34 được trang bị van khí 42. Hộp bánh răng giảm tốc 33 được trang bị vẩu lắp 37 có lỗ thông 26a để lắp bộ giảm xóc sau 26 (xem Fig.1) vào đó.

Ăcquy 56 được tạo kết cấu dạng môđun, trong đó nhiều ngăn ăcquy được nối với nhau để tạo ra điện áp cao định trước. Các ngăn ăcquy 56a dạng tấm được xếp chồng lên nhau và lồng vào trong khoang chứa 35 với các bề mặt phẳng của chúng nằm theo chiều từ phía trước đến phía sau thân xe. Theo cách này, ăcquy 56, là một bộ phận 15173 có khối lượng lớn, được bố trí gần với trục lắc 19 của đòn lắc 30. Do vậy, mômen quán tính trong quá trình lắc được giảm để cho phép thực hiện chuyển động lắc một cách trơn tru.

Mỗi ngăn ăcquy 56a được tạo kết cấu dạng tấm mỏng mà trong đó ngăn ăcquy được bao gói bằng các tấm mềm dạng tấm mỏng trên cơ sở từng ngăn một. Ăcquy dạng tấm mỏng này cho phép tăng cường độ đòng điện và cải thiện được khả năng tỏa nhiệt cũng như tạo điều kiện thuận lợi cho việc lắp ăcquy vào khoang chứa 35 và cho việc thay thế các ăcquy.

Fig.4 là hình vẽ mặt cắt phóng to của cơ cấu giảm tốc 720. Cơ cấu giảm tốc được bố trí giữa động cơ điện M và trục bánh xe 32. Đòn lắc 30 theo phương án thực hiện này có dạng nhô ra, trong đó chỉ có phần đòn bên trái đỡ theo cách quay được bánh sau WR. Ngoài ra, động cơ điện M và cơ cấu giảm tốc 720 được bố trí ở vị trí chính giữa phần đòn ở phía sau thân xe.

Động cơ điện M thuộc loại có rôto trong bao gồm stato 701 được lắp cố định vào thành trong của đòn lắc 30 và có cuộn dây stato và rôto 702 được lắp cố định vào trục dẫn động của động cơ điện 705 thông qua vòng đệm 703. Phần đầu bên trái theo chiều rộng xe của trục dẫn động của động cơ điện 705 được đỡ theo cách quay được bởi ổ đỡ 704 lắp vào tấm ốp đòn lắc 57. Phần đầu bên phải theo chiều rộng xe của trục dẫn động của động cơ điện 705 được đỡ theo cách quay được bởi ổ đỡ 707 lắp vào hộp bánh răng giảm tốc 33 và bởi ổ đỡ 709 lắp vào hộp bánh răng giảm tốc 41. Phần đầu ở phía sau thân xe của hộp bánh răng giảm tốc 33 được tạo ra có lỗ thông 26a dùng cho bộ giảm xóc sau 26. Đường dây điện đầu ra 700 của động cơ điện M được bố trí trong tấm ốp đòn lắc 57 và ỏ phía trước thân xe của động cơ điện M.

Lực dẫn động quay truyền đến trục dẫn động của động cơ điện 705 được truyền đến trục đầu ra cuối cùng (trục bánh xe) 32 thông qua cơ cấu giảm tốc 720. Cụ thể hơn, lực dẫn động quay được truyền đến trục đầu ra cuối cùng 32 thông qua bánh răng giảm tốc thứ nhất 713, trục giảm tốc thứ nhất 710 và bánh răng giảm tốc thứ hai 715. Bánh răng giảm tốc thứ nhất 713 ăn khớp với bánh răng giảm tốc 708 được tạo ra trên phần đầu bên phải của trục dẫn động của động cơ điện 705 trên hình vẽ này. Trục giảm tốc thứ nhất 710 được lắp cố định với bánh răng giảm tốc thứ nhất 713 và được đỡ theo cách quay được bởi ổ đỡ 712 lắp vào hộp bánh răng giảm tốc 33 và bởi ổ đỡ 711 lắp vào hộp bánh răng giảm tốc 41. Bánh răng giảm tốc thứ hai 715 ăn khớp với bánh răng 15173 giảm tốc được tạo ra trên trục giảm tốc thứ nhất 710. Trục đầu ra cuối cùng 32 được lắp cố định với bánh răng giảm tốc thứ hai 715 và được đỡ theo cách quay được bởi ổ đỡ 714 lắp vào hộp bánh răng giảm tốc 33 và bởi ổ đỡ 718 lắp vào hộp bánh răng giảm tốc 41.

Vành 34 của bánh sau WR được lắp cố định thông qua vòng đệm 717 vào phần đầu bên phải của trục đầu ra cuối cùng 32 trên hình vẽ này. Vành 34 được tạo ra có tang phanh với ống lót 719 ở phía đường kính trong. Hai guốc phanh trên và dưới (không được thể hiện trên hình vẽ) được dẫn động bởi cam phanh (không được thể hiện trên hình vẽ) được bố trí bên trong tang phanh. Vòng làm kín dầu 716 được bố trí ở phía bên trái ổ đỡ 718 trên hình vẽ này.

Như được minh họa trên Fig. 6 là hình vẽ nhìn từ phía bên, hộp chứa 300 được tạo kết cấu trong đó phần chứa ăcquy 301 và phần chứa các linh kiện phát nhiệt 302 được tạo ra liền khối với nhau. Khoang chứa 35 bao gồm khoang chứa ăcquy 301 a dạng hình tứ giác được tạo ra trên phần chứa ăcquy 301 và khoang chứa các linh kiện phát nhiệt 302a dạng hốc lõm được tạo ra trên phần chứa các linh kiện phát nhiệt 302.

Nói chung, ăcquy 56, có dạng hình hộp chữ nhật bao gồm các ngăn ăcquy 56a và có chiều dọc nằm dài theo chiều rộng xe, được bố trí trong phần chứa ăcquy 301. Các linh kiện phát nhiệt 350, lắp vào mặt bên phải theo chiều rộng xe của tấm nền dùng cho các linh kiện phát nhiệt 50b, được bố trí trong phần chứa các linh kiện phát nhiệt 302 theo cách sao cho phía đầu trên của các linh kiện phát nhiệt 350 được lồng vào trong đó. Mặt trong của khoang chứa ăcquy 301a có thể được tạo ra với các rãnh dẫn hướng được làm thích ứng để tiếp nhận các ngăn ăcquy 56a dạng tâm được lắp vào đó ở các vị trí định trước.

Ăcquy 56, tấm nền dùng cho các linh kiện phát nhiệt 50b và tấm nền bằng nhôm 50c được xử lý bởi "việc gắn kết nhựa." Việc gắn kết này về thực chất là để đảm bảo cho ăcquy 56 và bảng mạch (PDU) 50 được gắn cố định vào đòn lắc 30, nhằm cách nhiệt và hấp thụ rung động của tấm nền dùng cho các linh kiện phát nhiệt 50b và của tấm nền bằng nhôm 50c, và cải thiện khả năng tản nhiệt của từng bộ phận.

Việc gắn kết nhựa được thực hiện như sau. Ăcquy 56 và các tấm nền 50b và 50c được lồng vào các vị trí định ưước tương ứng. Sau đó, hỗn hợp gắn kết 362 (xem Fig.5) được đổ vào xung quanh ăcquy 56 ở trạng thái mà phần miệng của hộp chứa 300 quay 15173 lên phía trên. Hỗn hợp gắn kết 362 làm bằng nhựa lỏng được hóa cứng theo thời gian.

Chi tiết bằng cao su xốp 360 với chiều dày định trước được bố trí giữa ăcquy 56 và tấm nền bằng nhôm 50c. Chi tiết bằng cao su xốp 360 được tạo ra với các khe hở được làm thích ứng để tiếp nhận điện cực ăcquy 361 dạng tấm được lồng vào trong đó. Điện cực ăcquy 361 được tạo ra trên phần đầu bên trái của mỗi ngăn ăcquy 56a trên hình vẽ này. Vị trí của điện cực ăcquy 361 được xác định bởi các khe hở tương ứng này.

Chi tiết bằng cao su xốp 360 theo phương án thực hiện này được làm bằng nhựa dẻo như cao su xốp. Nhựa dẻo là vật liệu nhẹ, không thấm hỗn hợp gắn kết, có khả năng chịu nhiệt và khả năng hấp thụ rung động rất tốt, và cho phép khí đi qua. Nhân đây, kết cấu ăcquy theo phương án thực hiện này đòi hỏi phải nối từng ngăn dạng tấm (mỗi ngăn ăcquy) 56a với tấm nền bằng nhôm 50c thông qua dây điện cảm biến và cần phải làm kín toàn bộ tẩm nền bằng nhôm 50c bằng hỗn hợp gắn kết 362. Toàn bộ khoảng không giữa từng ngăn dạng tám 56a và tấm nền bằng nhôm 50c có thể được điền đầy hỗn hợp gắn kết 362. Tuy nhiên, ngay cả trong trường hợp này, hỗn hợp gắn kết 362 được điền đầy vào phần này không chỉ thực hiện chức năng cố định ăcquy 56 trong khoang chứa ăcquy 301 mà còn làm tăng trọng lượng của đòn lắc 30. Ngoài ra, hỗn hợp gắn kết 362 này không có các đường dẫn dùng cho khí được xả ra từ ăcquy 56. Vì lý do đó, kết cấu theo phương án thực hiện này dự kiến tối ưu hóa trạng thái nạp đầy hỗn hợp gắn kết bằng cách bố trí chi tiết bằng cao su xốp 362 trong khoảng không giữa các ngăn dạng tấm 56a và tấm nền bằng nhôm 50c.

Nhân đây, hỗn hợp gắn kết 362 có độ nhớt tương đối cao trong quá trình đổ. Do vậy, ít nhất là toàn bộ tấm nền bằng nhôm 50c được xử lý bằng gắn kết và lượng hỗn hợp gắn kết 362 mà đủ để cố định ăcquy 56 chỉ cần được điền đầy xung quanh phần miệng của khoang chứa ăcquy 301. Nói cách khác, hỗn hợp gắn kết 362 không cần phải điền đầy phần mặt bên và phần mặt đáy của khoang chứa ăcquy 301. Theo phương án thực hiện này, khả năng làm việc trong quá trình bằng gắn kết được cải thiện bằng cách thực hiện việc gắn kết trước khi hộp chứa 300 được lắp vào vỏ đòn lắc 330. Tuy nhiên, việc gắn kết có thể được thực hiện sau khi hộp chứa 300 được lắp cố định vào vỏ đòn lắc 330.

Fig.7 và Fig.8 là các sơ đồ khối minh họa kết cấu của hệ thống điện áp dụng cho xe hai bánh được dẫn động bằng động cơ điện 1. Các số chỉ dẫn giống với các số chỉ 15173 dẫn được dùng trên đây biểu thị cùng một bộ phận hay bộ phận tương tự. Fig.8 minh họa kết cấu mạch các bộ phận của riêng bộ nạp điện ăcquy và Fig.7 minh họa toàn bộ kết cấu của các bộ phận khác. Trên Fig.7 và FIG.8, các linh kiện lắp trên tấm nền dùng cho các bộ phận điều khiển 50a được thể hiện bởi "đường chấm gạch" các linh kiện lắp trên tấm nền bằng nhôm 50c được thể hiện bởi "đường nét đứt" và các linh kiện lắp trên tấm nền dùng cho các linh kiện phát nhiệt 50b được thể hiện bởi "đường nét liền."

Các linh kiện mà dòng điện yếu để tín hiệu điều khiển chạy trong đó được lắp trên tấm nền dùng cho các bộ phận điều khiển 50a. Các linh kiện này hầu như không sinh ra nhiệt. Tấm nền dùng cho các bộ phận điều khiển 50a được làm bằng một tấm nền bằng thủy tinh epoxy. Các linh kiện mà dòng điện mạnh chạy trong đó và bản thân chúng không thể phát nhiệt chủ yếu được lắp trên tấm nền bằng nhôm 50c. Các linh kiện điện tử này. ví dụ, là các linh kiện bán dẫn (FET, điôt), các điện trở, tụ điện màng mỏng, v.v.., và được lắp trên tám nền bằng nhôm 50c có khả năng dẫn nhiệt cao để cải thiện khả năng tỏa nhiệt. Các linh kiện điện tử có kích thước lớn mà dòng điện mạnh chạy trong đó và bản thân chúng có thể phát nhiệt chủ yếu được lắp trên tấm nền dùng cho các linh kiện phát nhiệt 50b. Các linh kiện điện tử này là các cảm ứng, biến áp và tụ điện phân, v.v... Tấm nền dùng cho các linh kiện phát nhiệt 50b được bố trí ở vị trí không bị ảnh hưởng bởi nhiệt của ăcquy, nhờ đó dự kiến là cải thiện được việc tích tụ nhiệt.

Trên các sơ đổ khối được thể hiện trên trên Fig.7 và Fig.8, các bộ phận sau được lắp trên tấm nền dùng cho các linh kiện phát nhiệt 50c: bộ lọc dòng điện vào 209 và bộ lọc dòng điện ra 201 (tương đương với nhóm các bộ lọc dòng điện vào-ra nêu trên) của bộ nạp điện ăcquy 200, mạch PFC 207 (tương đương với tụ điện để cải thiện hệ số nạp điện cho ăcquy nêu trên), biến áp AC-DC 204 (tương đương với tụ điện dùng để chuyển đổi dòng điện xoay chiều thành dòng điện một chiều trong bộ nạp điện ăcquy nêu trên), biến áp DC-DC 108 (tương đương với nhóm các loại biến áp) của bộ đổi điện DC-DC 106, và bộ lọc dòng điện ra 110.

Theo Fig.7, ăcquy ion Li 56 được nối điện với phía đầu vào của bộ đổi điện 123 thông qua công tắc tiếp xúc 104. Ngoài ra, động cơ điện M được nối với phía đầu ra của bộ đổi điện 123 nhờ đường dùng cho dòng điện xoay chiều ba pha. Rơle sơ nạp 105 được làm thích ứng để ngăn không cho dòng điện nạp tăng quá nhanh được nối song song với công tắc tiếp xúc 104. Công tắc tiếp xúc 104 được điều khiển bật-tắt nhờ sự 15173 tiếp xúc cơ học được kích hoạt bởi lực điện từ.

Cụm quản lý ăcquy (BMU) 100 bao gồm mạch (ASIC) 101 dùng để giám sát điện áp, nhiệt độ, v.v.., của ăcquy 56, bộ phận cân đối việc phóng điện của ngăn 102 để hiệu chỉnh sự phân tán dung lượng của các ngăn ăcquy và bộ điều khiển 103 dùng để điều khiển các thông số này.

Các đường dây điện tương ứng của hệ thống thường trực 116, hệ thống điều khiển 117, công tắc chính 118 và đường truyền thông CAN 119 được bố trí giữa bộ điều khiển 103 trên BMU 100 và bộ điều khiển 122 dùng làm cụm điều khiển để điều khiển bộ đổi điện 123. Bộ điều khiển 103 của BMU 100 truyền tín hiệu báo động về việc quá nạp 120 và bộ điều khiển 122 của bộ đổi điện 123 truyền tín hiệu điều khiển công tắc tiếp xúc 121.

Bộ điều khiển 122 dùng cho bộ đổi điện 123 tiếp nhận các tín hiệu cảm biến từ cảm biến góc quay 124 dùng để xác định góc quay của của động cơ điện M, cảm biến van tiết lưu dùng để xác định lượng mà người đi xe vặn tay ga, công tắc yên xe SW 126 dùng để xác định xem liệu người đi xe đang ngồi trên yên xe 20 hay không, công tắc chân chống bên 127 dùng để xác định xem liệu chân chống bên (không được thể hiện trên hình vẽ) của xe được dẫn động bằng động cơ điện 1 đã được thu lại hay chưa, và cảm biến góc nghiêng 129 dùng để xác định độ nghiêng (góc nghiêng) của xe được dẫn động bằng động cơ điện này. Còi tiếng ve 128 dùng làm thiết bị cảnh báo được kích hoạt để đáp lại tín hiệu vận hành cấp từ bộ điều khiển 122 khi xác định được việc ăcquy 56 phóng điện quá mức.

Hệ thống thường trực 116 được nối với bộ đổi điện DC-DC 106 được làm thích ứng để chuyển đổi dòng điện có cường độ lớn cấp từ ăcquy 56 thành dòng điện dùng cho việc điều khiển. Bộ đổi điện DC-DC 106 bao gồm cụm dẫn động phía sơ cấp 107, biến áp DC-DC 108, mạch nắn dòng điện ra 109, bộ lọc dòng điện ra 110, IC dẫn động phía sơ cấp 113 dùng để cấp tín hiệu PWM cho cụm dẫn động phía sơ cấp 107 và IC dẫn động phía thứ cấp 114 dùng để cấp tín hiệu PWM cho mạch nắn dòng điện ra 109. Tín hiệu khởi động 115 được cấp từ bộ điều khiển 122 đến IC dẫn động phía sơ cấp IC 113. Cụm còi báo động chống trộm 133 và công tắc chính sw 136 được nối ở phía đầu với hệ thống thường trực 116.

Hệ thống điều khiển 117 được nối với bộ điểu khiển 122 dùng cho bộ đổi điện 123. Đồng hồ hiển thị 132 dùng làm đèn hiển thị của cụm còi báo động chống trộm 15173

133 được nối với hệ thống điều khiển 117 ở một đầu. cảm biến tốc độ xe dùng để xác định vận tốc của xe được nối với đồng hồ hiển thị 133. Đổng hồ hiển thị 133 được tạo kết cấu để thực hiện chức năng làm đèn cảnh báo tốc độ khi vận tốc của xe vượt quá một tri số định trước.

Các đèn 130 như đèn xi nhan và các đèn tương tự, đèn pha (H/L) 10, và thiết bị điện nói chung 131 như quạt dùng để làm mát ăcquy và các thiết bị tương tự được nối với hệ thống công tắc chính sw 118. Hệ thống công tắc chính sw 118 có một đầu được nối với rơle ngắt điện tự động 135, dùng để cho phép đèn pha 10 và các thiết bị điện khác hoạt động trong điểu kiện định trước ngay cả khi công tắc chính SW 136 bị tắt.

Theo Fig. 8 các đường dùng cho dòng điện một chiều vào-ra (A, B) nối với ăcquy 56 và phích cắm AC 215 nối với nguồn cấp dòng điện xoay chiều thương mại và các nguồn điện khác được nối với bộ nạp điện ăcquy 200. Bộ nạp điện ăcquy 200 bao gồm bộ lọc dòng điện vào 209, điôt cầu 208, mạch PFC 207 dùng làm mạch cải thiện hệ số công suất, cụm dẫn động phía sơ cấp 206, biến áp AC-DC 204, mạch nắn dòng điện ra 203 và bộ lọc dòng điện ra 201. Tín hiệu của mạch xác định sự quá dòng 212, được bố trí giữa cụm dẫn động phía sơ cấp 206 và biến áp AC-DC 204, được cấp cho ICdẫn động PFC-PWM 213. Mặt khác, tín hiệu của mạch xác định điện áp 202, nối với bộ lọc dòng điện ra 201, được cấp cho IC dẫn động PFC-PWM 213 thông qua đầu nối quang 205. Mạch PFC 207 và cụm dẫn động phía sơ cấp 206 lần lượt được kích hoạt bởi các tín hiệu PWM 210 và 214 cấp ra từ IC dẫn động PFC-PWM 213. IC dẫn động PFC-PWM 213 tiếp nhận tín hiệu khởi động 214 (C) từ bộ điều khiển 122 dùng cho bộ đổi điện 123.

Fig.9 là hình chiếu cạnh phóng to của đòn lắc 30a theo phương án thực hiện thứ hai của sáng chế. Fig.10 là hình chiếu bằng nhìn từ trên xuống thể hiện đòn lắc 30a. Fig. 11 là hình vẽ mặt cắt theo đường A-A trên Fig.9. Các số chỉ dẫn giống với các số chỉ dẫn được dùng trên đây biểu thị các bộ phận giống hay tương tự với chúng. Kết cấu theo phương án thực hiện thứ hai khác biệt là: hộp chứa 400 dùng để chứa ăcquy 56 và các bộ phận tương tự được lắp từ phía trên thân xe của đòn lắc 30a ở trạng thái mà phần miệng quay xuống phía dưới thân xe. Nhờ kết cấu này, ăcquy 56 nói chung vốn có dạng hình hộp chữ nhật được bố trí trên đòn lắc 30a với chiều dọc của nó hướng theo chiều thẳng đứng của thân xe. Do vậy, cơ cấu lắp môđun ăcquy có thể được tạo ra sao 15173 cho kích thước theo chiều rộng giảm để tập trung khối lượng vào phần giữa của thân xe và thích hợp dùng cho các loại xe có chiều cao lớn.

Tương tự như kết cấu theo phương án thực hiện thứ nhất được mô tả trên đây, đòn lắc 30a được tạo kết cấu rỗng một phần làm bằng kim loại như nhôm hay các vật liệu tương tự. Ngoài ra, đòn lắc 30a có dạng nhô ra trong đó phần đòn bên trái 39 theo chiều rộng xe đỡ bánh sau WR. Hai vấu lắp chốt xoay bên trái và bên phải 36 được tạo ra có lỗ thông 19a được lắp trên phần dưới phía trước thân xe của đòn lắc 30a.

Như được minh họa trên Fig.11, hộp chứa 400 được lắp theo cách tháo ra được vào bề mặt thành ở phía trên thân xe của vỏ đòn lắc 430 được tạo ra liền khối với phần đòn 39 ở phía trước thân xe. Nhờ đó, việc lắp ráp sơ bộ dùng để cố định ăcquy 56 và các bộ phận tương tự với hộp chứa 400 có thể được thực hiện sẵn từ trước. Do vậy, hiệu suất lắp ráp đòn lắc 30a có thể được cải thiện.

Theo phương án thực hiện này, bảng mạch (PDU) 50 được bố trí trên ăcquy 56 ở phía dưới thân xe. Bảng mạch 50 bao gồm tấm nền bằng nhôm 50c, tẩm nền dùng cho các bộ phận điều khiển 50a, và tấm nền dùng cho các linh kiện phát nhiệt 50b. Tấm nền bằng nhôm 50c được bố trí liền kề với mặt dưới của ăcquy 56. Tâm nền dùng cho các bộ phận điều khiển 50a được bố trí ở một khoảng cách định trước so với tấm nền bằng nhôm 50c và nằm ở vị trí gối chồng lên tấm nền bằng nhôm 50c khi nhìn từ phía trên thân xe. Tấm nền dùng cho các linh kiện phát nhiệt 50b được bố trí ở vị trí nằm giữa tấm nền dùng cho các bộ phận điều khiển 50a và tấm nền bằng nhôm 50c và ở phía bên trái theo chiều rộng xe của các tấm nền 50a và 50c.

Tương tự như kết cấu theo phương án thực hiện được mô tả trên đây, các linh kiện có công suất tỏa nhiệt thấp như các linh kiện cấp tín hiệu, các linh kiện bán dẫn (FET) và các linh kiện tương tự chủ yếu được lắp trên tấm nền dùng cho các bộ phận điều khiển 50a. Các linh kiện có công suất tỏa nhiệt cao, ví dụ, các linh kiện phát nhiệt 450 được lắp trên tấm nền dùng cho các linh kiện phát nhiệt 50b. Ví dụ về các linh kiện có công suất tỏa nhiệt cao bao gồm nhiệt điện trở, nhóm các bộ lọc dòng điện vào-ra dùng cho bộ nạp điện ăcquy, tụ điện để cải thiện hệ số nạp điện cho ăcquy (mạch PFC), tụ điện dùng để chuyển đổi dòng điện xoay chiều thành dòng điện một chiều trong bộ nạp điện ăcquy (biến áp AC-DC), và nhóm các biến áp (các biến áp DC-DC và các bộ phận tương tự). Các linh kiện bán dẫn hay các linh kiện tương tự có công suất tỏa nhiệt thấp hơn các linh kiện phát nhiệt lắp ữên tấm nền dùng cho các linh kiện phát nhiệt 15173

50b được lắp trên tấm nền bằng nhôm 50c. Tấm nền dùng cho các linh kiện phát nhiệt 50b, trong đó chỉ các linh kiện phát nhiệt có công suất tỏa nhiệt cao được bố trí theo cách tập trung, được lắp đặt như được mô tả trên đây. Do vậy, có thể giảm tải trọng nhiệt của các linh kiện phát nhiệt tác dụng lên các linh kiện khác.

Đường dây điện pha U 410, đường dây điện pha V 411 và đường dây điện pha w 412 được nối với tấm nền bằng nhôm 50c để cấp điện cho động cơ điện truyền động M. Tẩm ốp đòn lắc 57 dạng tấm mỏng (trên Fig.8 nó đã được tháo ra) được lắp vào phía bên trái theo chiều rộng xe của vỏ đòn lắc 430 để che theo cách liền khối bảng mạch (PDU) 50 và động cơ điện M.

Hộp bánh răng giảm tốc 33 và 41 mà bộ giảm tốc được bố trí trong đó được lắp vào phần đầu sau của phần đòn 39. Bộ giảm tốc này làm giảm số vòng quay của động cơ điện M. Trục bánh xe 32 nhô ra từ hộp bánh răng giảm tốc 41 về phía bên phải theo chiều rộng xe. Vành 34 của bánh sau WR được lắp cố định vào phần đầu của trục bánh xe 32 nhờ đai ốc 32a. Bánh sau WR sử dụng lốp không săm và vành 34 được trang bị van khí 42. Hộp bánh răng giảm tốc 33 được trang bị vấu lắp 37 có lỗ thông 26a dùng để lắp bộ giảm xóc sau 26 (xem Fig.1) vào đó.

Hộp chứa 400 được tạo kết cấu trong đó phần chứa ăcquy 401 và phần chứa các linh kiện phát nhiệt 402 được tạo ra liền khối với nhau. Khoang chứa 35 bao gồm khoang chứa ăcquy 401a có dạng hình tứ giác được tạo ra trong phần chứa ăcquy 401 và khoang chứa các linh kiện phát nhiệt 302a có dạng lõm được tạo ra trên phần chứa các linh kiện phát nhiệt 402. Ăcquy 56 nói chung vốn có dạng hình hộp chữ nhật bao gồm các ngăn ăcquy 56a và có chiều dọc nằm theo chiều thẳng đứng của thân xe được bố trí trong phần chứa ăcquy 401. Các linh kiện phát nhiệt 450 lắp vào mặt ở phía thân xe của tấm nền dùng cho các linh kiện phát nhiệt 50b được bố trí trong phần chứa các linh kiện phát nhiệt 402 theo cách sao cho phía đầu trên của các linh kiện phát nhiệt 450 được lồng vào trong đó. Ăcquy 56, tấm nền dùng cho các linh kiện phát nhiệt 50b và tấm nền bằng nhôm 50c được xử lý bằng việc gắn kết nhờ hỗn hợp gắn kết 362.

Như được mô tả trên đây, cơ cấu lắp môđun ăcquy dùng cho xe hai bánh dẫn động bằng động cơ điện theo sáng chế thuộc loại mà ăcquy và các tấm nền được bố trí trong hộp chứa sao cho chúng có thể lắp vào và tháo ra khỏi đòn lắc. Do vậy, ăcquy và các tấm nền có thể được xử lý như một môđun để có thể lắp vào và tháo ra khỏi đòn lắc. Điều đó cho phép thực hiện sẵn từ trước việc lắp ráp sơ bộ để cố định ăcquy và các 15173 bộ phận tương tự với hộp chứa. Như vậy, hiệu suất lắp ráp đòn lắc có thể được cải thiện. Ngoài ra, việc thay thế ăcquy sau khi lắp ráp xong xe có thể được tạo điều kiện thuận lợi và tính đa dụng mà theo đó một hộp chứa chung được áp dụng cho nhiều loại đòn lắc có thể được cải thiện.

Nhân đây, hình dạng, kết cấu, v.v.., của xe hai bánh được dẫn động bằng động cơ điện, đòn lắc, hộp chứa, các tấm nền, ăcquy và chi tiết bằng cao su xốp không chỉ giới hạn ở cơ cấu theo các phương án thực hiện được mô tả trên đây và có thể được biến thể theo nhiều cách khác nhau. Cơ cấu lắp môđun ăcquy theo sáng chế có thể được áp dụng cho nhiều loại xe được dẫn động bằng động cơ điện như xe ba bánh/bốn bánh dạng yên ngựa cũng như cho xe được dẫn động bằng động cơ điện hai bánh.